Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, thu hồi tài sản tham nhũng (Phần 1) (26/12/2016 03:11 PM)

Minh bạch tài sản, thu nhập và thu hồi tài sản tham nhũng là những giải pháp chính sách đặc biệt quan trọng trong chính sách phòng, chống tham nhũng. Các giải pháp này hướng đến việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng và nhất là làm triệt tiêu động cơ kinh tế của hành vi tham nhũng, ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại do tham nhũng gây ra. Do đó, để chống tham nhũng thành công, nhất thiết phải hoạch định, xây dựng, thực thi có hiệu quả chính sách, pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập và thu hồi tài sản tham nhũng.

1. Thực trạng pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập và thu hồi tài sản tham nhũng

1.1. Khái quát quy định của pháp luật hiện hành về minh bạch tài sản, thu nhập

“Minh bạch tài sản, thu nhập” đang được hiểu là việc kê khai, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập và khi cần thiết được xác minh, kết luận. Đây là một trong các chế định về phòng ngừa tham nhũng được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2005 và được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN năm 2012.

Thực hiện Luật PCTN, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2013/NĐ-CP  ngày 17/7/2013 quy định chi tiết về minh bạch tài sản, thu nhập và Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 hướng dẫn thi hành. Luật PCTN và các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên là các căn cứ pháp lý chủ yếu để tổ chức thi hành chính sách, pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập trong thời điểm hiện nay.

Các quy định chủ yếu về minh bạch tài sản, thu nhập bao gồm:

Một là, đối tượng phải kê khai tài sản.

- Đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, người được dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

- Cán bộ, công chức từ Phó trưởng phòng của Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên và người được hưởng phụ cấp chức vụ tương đương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

- Sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó Tiểu đoàn trưởng, người hưởng phụ cấp chức vụ tương đương Phó Tiểu đoàn trưởng trở lên trong Quân đội nhân dân; sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó Tiểu đoàn trưởng, Phó Trưởng công an phường, thị trấn, Phó Đội trưởng trở lên trong Công an nhân dân.

- Người giữ chức vụ tương đương Phó Trưởng phòng trở lên tại bệnh viện, viện nghiên cứu, cơ quan báo, tạp chí, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

- Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học, trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, người giữ chức vụ tương đương Phó Trưởng phòng trở lên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề của Nhà nước.

- Thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành viên, thành viên ban kiểm soát, kiểm soát viên, người giữ chức danh quản lý tương đương từ Phó Trưởng phòng trở lên trong doanh nghiệp nhà nước, người là đại diện phần vốn của Nhà nước, phần vốn của doanh nghiệp nhà nước và giữ chức danh quản lý từ Phó Trưởng phòng trở lên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước, của doanh nghiệp nhà nước.

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Trưởng Công an, chỉ huy trưởng quân sự, cán bộ địa chính, xây dựng, tài chính, tư pháp - hộ tịch xã, phường, thị trấn.

- Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm tra viên, thẩm phán, thư ký tòa án, kiểm toán viên nhà nước, thanh tra viên, chấp hành viên, công chứng viên nhà nước.

- Người không giữ chức vụ quản lý trong các cơ quan nhà nước, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong các lĩnh vực quy định tại Danh mục ban hành kèm theo Nghị định này.

Hai là, tài sản phải kê khai.

- Các loại nhà, công trình xây dựng (Nhà, công trình xây dựng khác đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu; Nhà, công trình xây dựng khác chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu đứng tên người khác; Nhà, công trình xây dựng khác đang thuê hoặc đang sử dụng thuộc sở hữu của Nhà nước).

- Các quyền sử dụng đất (Quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng; Quyền sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên người khác).

- Tiền mặt, tiền cho vay, tiền gửi các cá nhân, tổ chức trong nước, nước ngoài mà giá trị mỗi loại từ 50 triệu đồng trở lên.

- Tài sản ở nước ngoài.

- Ô tô, mô tô, xe máy, tàu, thuyền và những động sản khác mà Nhà nước quản lý (theo quy định của pháp Luật phải đăng ký sử dụng và được cấp giấy đăng ký) có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên.

- Kim loại quý, đá quý, cổ phiếu, các loại giấy tờ có giá trị chuyển nhượng khác có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên.

- Các Khoản nợ phải trả có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên.

- Tổng thu nhập trong năm.

- Tài sản đang thuê, đang quản lý hộ, giữ hộ nếu tổng thời gian sử dụng tài sản đó trong kỳ kê khai từ 6 tháng trở lên.

Ba là, thời điểm, thủ tục kê khai.

Việc kê khai tài sản được thực hiện hàng năm, trước 31/12 và kê khai theo 1 mẫu thống nhất.

Bốn là, giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm.

Người có nghĩa vụ kê khai tự giải trình và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, kịp thời của những thông tin về nguồn gốc tài sản tăng thêm khi:

- Tài sản là nhà, đất tăng thêm về số lượng hoặc thay đổi về cấp nhà, công trình, loại đất so với kỳ kê khai trước đó.

- Tài sản khác tăng thêm về số lượng hoặc thay đổi về chủng loại với mức giá trị tăng thêm từ 50 triệu đồng trở lên so với kỳ kê khai trước đó.

Năm là, công khai bản kê khai tài sản.

Bản kê khai được công khai tại nơi người kê khai tài sản thường xuyên công tác bằng 1 trong 2 hình thức: Niêm yết tại trụ sở cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc công bố tại cuộc họp với phạm vi tuỳ thuộc vị trí lãnh đạo, quản lý của người kê khai tài sản. Ví dụ: Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Bộ trưởng và tương đương trở lên thì công khai trước đối tượng ghi phiếu tín nhiệm để lấy phiếu tín nhiệm hàng năm. Cán bộ, công chức giữ chức vụ Thứ trưởng, Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng và tương đương trở lên công khai trước lãnh đạo từ cấp cục, vụ và tương đương trở lên của cơ quan mình. Giám đốc, Phó Giám đốc sở, ngành và tương đương, trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công khai trước lãnh đạo cán bộ cấp phòng và tương đương trở lên trực thuộc sở, ngành, cơ quan, đơn vị đó…

Sáu là, quản lý bản kê khai tài sản.

Bản kê khai được lưu cùng hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức; người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm lưu giữ bản sao Bản kê khai của mình; đối với người có nghĩa vụ kê khai thuộc diện cấp ủy quản lý (theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ) thì đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ sao y 02 bản, nộp bản gốc cho ban tổ chức cấp ủy cùng cấp, lưu 01 bản sao tại đơn vị mình, gửi 01 bản sao cho cơ quan kiểm tra cấp ủy cùng cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ (để phục vụ công tác giám sát và xác minh theo quy định).

Khi người có nghĩa vụ kê khai được điều động sang cơ quan, tổ chức, đơn vị khác thì Bản kê khai của người đó phải được chuyển giao cùng hồ sơ cán bộ cho cơ quan, tổ chức, đơn vị mới. Khi người có nghĩa vụ kê khai nghỉ hưu, thôi việc thì Bản kê khai của người đó được lưu giữ theo quy định về quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức.

Bảy là, xác minh, kết luận, xử lý vi phạm về việc kê khai tài sản, thu nhập.

- Thẩm quyền xác minh về tài sản, thu nhập:

+ Trong trường hợp người được xác minh do cấp ủy đảng quản lý thì cơ quan có thẩm quyền xác minh là cơ quan kiểm tra đảng cùng cấp. Nhưng người khác công tác tại các cơ quan của Đảng thì thẩm quyền xác minh thuộc đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ.

+ Đối với các đối tượng khác thì thẩm quyền xác minh thuộc cơ quan thanh tra (nơi có tổ chức thanh tra nhà nước) hoặc đơn vị phụ trách tổ chức, cán bộ (nơi không có tổ chức thanh tra nhà nước).

- Nội dung xác minh tài sản, thu nhập là tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng, đúng thời hạn của những thông tin về số lượng, giá trị các loại tài sản, các khoản thu nhập, mô tả về tài sản, thu nhập, biến động tài sản, việc giải trình về biến động tài sản, nguồn gốc tài sản tăng thêm và những nội dung khác có liên quan trong bản kê khai tài sản, thu nhập của người được xác minh.

- Nội dung kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập phải nêu rõ sự phù hợp hay không phù hợp giữa Bản kê khai và kết quả xác minh. Trường hợp có sự không phù hợp giữa kết quả xác minh và bản kê khai thì kết luận không trung thực và nêu rõ sự sai lệch về số lượng tài sản, thu nhập, thông tin mô tả về tài sản, thu nhập, biến động tài sản, thu nhập, nguồn gốc tài sản tăng thêm; quyết định hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý người có nghĩa vụ kê khai không trung thực.

- Người kê khai tài sản, thu nhập, người giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý kỷ luật.

1.2. Khái quát quy định hiện hành của pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng

Pháp luật Việt Nam đã có quy định rõ khái niệm tài sản tham nhũng, nguyên tắc xử lý đối với tài sản tham nhũng; quy định việc thu hồi tài sản tham nhũng thông qua việc thi hành bản án hình sự, đồng thời cũng quy định cơ chế để thu hồi hoặc bảo đảm cho việc thu hồi tài sản tham nhũng ngay trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, tiến hành tố tụng và thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài, cụ thể như sau:

Một là, về việc xác định tài sản tham nhũng, Luật PCTN hiện hành đã quy định: Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng.

Hai là, về những nguyên tắc cơ bản trong xử lý tài sản tham nhũng: Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng. Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Đối với việc thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài, Luật PCTN hiện hành quy định: Trên cơ sở Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp.

Ba là, về thu hồi tài sản tham nhũng thông qua hoạt động tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng, trong phạm vi chức năng, thẩm quyền của mình đều có quyền thu hồi, tạm giữ, phong toả tài sản có liên quan đến tham nhũng hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi, tạm giữ, phong toả tài sản đó.

Bốn là, về việc thu hồi tài sản tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, các cơ quan chức năng nếu phát hiện tài sản tham nhũng đều có thẩm quyền thu hồi hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật.

Ths. Ngô Mạnh Hùng

Phó Cục trưởng Cục CTN - Thanh tra Chính phủ

Nguồn: thanhtravietnam.vn (29/11/2016)

 
 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu