Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Quyền tố cáo trong Luật Tố cáo năm 2018 (21/03/2019 09:37 AM)

Tố cáo là một trong những quyền của con người nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trước những vấn đề bị vi phạm. Bản chất của quyền tố cáo là quyền tự vệ hợp pháp trước những hành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội. Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ và hơn thế nữa, đó là quyền để bảo vệ quyền.

Quy định về người tố cáo

Ở Việt Nam, từ trước đến nay, đều ghi nhận tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, trong đó Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều 74: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định…”. Luật Tố cáo năm 2011 thể chế hóa Hiến pháp năm 1992, quy định quyền tố cáo chỉ dành riêng cho công dân (Khoản 4, Điều 2). Quyền tố cáo đã được Hiến pháp 2013 sửa đổi, bổ sung tại Điều 30, cụ thể: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo quy định này, tố cáo không chỉ là quyền Hiến định của công dân Việt Nam (những người có quốc tịch Việt Nam) mà đã được công nhận là quyền con người.“Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 là một trong những biện pháp phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trên tinh thần đó, Luật Tố cáo đã quy định mở rộng phạm vi chủ thể thực hiện quyền tố cáo là cá nhân. Cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, công dân nước ngoài và người không quốc tịch.

Tố cáo là phương thức để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Tố cáo đều hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền. Xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và thực hiện chủ trương mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân nước ngoài hay không có quốc tịch là một quy định hết sức quan trọng và cần thiết. Đó là cơ sở pháp lý quan trọng để cá nhân kịp thời báo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đồng thời giúp mọi người giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nhà nước Việt Nam chẳng những muốn công dân Việt Nam (chủ thể của quyền lực nhà nước) giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà còn cầu thị, lắng nghe những ý kiến phản biện từ những tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đó là biện pháp để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quy định về quyền của người tố cáo

Một điểm mới rất quan trọng về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 đó là đã thay đổi về cách hiến định quyền con người, từ công thức Nhà nước “quyết định”, “trao” quyền cho người dân sang công thức các quyền của con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước phải ghi nhận, phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện.

Trên cơ sở đó, Luật Tố cáo đã có những thay đổi, tiến bộ hơn về tư duy, cách tiếp cận, cách quy định quyền của người tố cáo, từ công thức “yêu cầu” thực hiện quyền sang công thức “được” thực hiện quyền. Tức là từ cách thực hiện bị động sang cách thực hiện chủ động. Từ cách thức nhà nước chỉ bảo đảm quyền tố cáo khi phải có yêu cầu của người tố cáo sang cách thức không cần có yêu cầu của người tố cáo thì nhà nước vẫn phải có trách nhiệm bảo đảm quyền của người tố cáo. Trước đây, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chỉ thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo khi có yêu cầu của người tố cáo. Hiện nay, Luật Tố cáo quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm chủ động thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo cho người tố cáo, chứ không phải khi người tố cáo yêu cầu (điểm c, Khoản 1, Điều 9).

  Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình (Khoản 1, Điều 21). Dưới góc độ quyền tiếp cận thông tin, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân là thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện (Phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của công dân có thông tin) (Khoản 2, Điều 7). Trong quá trình thực hiện quyền tố cáo, nhu cầu mong muốn được bảo vệ bí mật thông tin chiếm tới 75% trong tổng số nội dung mà người tố cáo mong muốn được bảo vệ. Điều đó thể hiện người tố cáo thường không muốn lộ thông tin về mình và khi đã bị lộ thì điều mà họ lo ngại nhất chính là tính mạng, sức khoẻ của bản thân, gia đình. Chính vì những lý do đó, Luật Tố cáo kế thừa quy định của Luật Tố cáo năm 2011 về quyền bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác của người tố cáo. Tuy nhiên, điểm mới, tiến bộ của Luật Tố cáo đó là quyền bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác của người tố cáo được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo đảm thực hiện (điểm b, Khoản 1, Điều 9). Nghĩa vụ bảo đảm ở đây đòi hỏi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có những biện pháp cụ thể để quyền bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác của người tố cáo được thực hiện triệt để, hiệu quả. Vì vậy, Điều 56 của Luật Tố cáo quy định cụ thể các biện pháp để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo. Đó là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định áp dụng biện pháp sau đây: Giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp; Lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo; Bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;Áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật;Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo”. Trước đây, Luật Tố cáo năm 2011 cũng quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo; đồng thời phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin và bảo vệ cho người tố cáo”. Đó chỉ làquy định mang tính nguyên tắc chung, Luật Tố cáo năm 2011 không đưa ra được những biện pháp cụ thể để bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo. Việc quy định cụ thể trong luật là cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo trên thực tế. Quy định đó là cơ sở pháp lý rõ ràng xác định trách nhiệm pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc thực hiện quyền bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo.

Quyền của chủ thể là khả năng của chủ thể được xử sự theo những cách thức nhất định mà pháp luật cho phép. Tùy theo mong muốn của mình mà chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền. Tố cáo là quyền của cá nhân. Vì thế, cá nhân cũng có quyền rút tố cáo. Khi thấy hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cá nhân được thực hiện quyền tố cáo của mình nhằm kịp thời ngăn chặn, xử lý những hậu quả xấu của hành vi vi phạm đó gây ra. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, trong quá trình tố cáo, người tố cáo có thể tự mình nhìn nhận hoặc được cơ quan tiếp nhận tố cáo phân tích về việc tố cáo đó là không có cơ sở, không đủ căn cứ, không đủ bằng chứng nên có nguyện vọng được rút tố cáo. Việc rút tố cáo trong những trường hợp này là cần thiết để tránh tố cáo sai, ảnh hưởng đến uy tín của người bị tố cáo. Thực tế cũng cho thấy, qua quá trình giải quyết tố cáo, chỉ có 12,4% tố cáo đúng; 28,3% tố cáo có đúng, có sai; 59,3% tố cáo sai. Do đó, Luật Tố cáo đã bổ sung quyền mới của người tố cáo đó là rút tố cáo (điểm đ, Khoản 1, Điều 9). “Người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản”. Tất nhiên, nếu người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì nội dung tố cáo còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định. Bên cạnh đó, việc rút tố cáo không chấm dứt trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết. Đánh giá tổng kết sau 04 năm thi hành Luật Tố cáo năm 2011 cho thấy, vấn đề đáng lo ngại là tố cáo đang bị kẻ xấu lợi dụng kích động, xuyên tạc, bôi xấu, đe doạ và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, tác động tiêu cực vào tâm lý, của cán bộ, nhân dân. Quy định này sẽ khắc phục được trường hợp người tố cáo rút đơn tố cáo để trốn tránh trách nhiệm tố cáo sai sự thật gây thiệt hại đến uy tín, danh dự, quyền lợi, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tố cáo./.

  Ths. Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột

Nguồn: thanhtravietnam.vn (17/01/2019)

 
 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu